Thừa kế, bán nhà ở thuộc sở hữu chung?

[THỪA KẾ, BÁN NHÀ Ở THUỘC SỞ HỮU CHUNG]

        Chào mọi người! Hôm nay Tổng đài tư vấn luật miễn phí 19006994 nhận được câu hỏi của anh N.V.N như sau:

        Chào Luật sư! Tôi có một vấn đề nhờ Luật sư tư vấn giúp tôi. Năm 2019 bố mẹ tôi mất nhưng không để lại di chúc, nhà tôi có 04 anh em, 02 người hiện đang ở nhà của bố mẹ, còn 02 người kia thì ở riêng. Nay tôi và 02 em muốn bán nhà nhưng chị tôi không đồng ý, xin hỏi Luật sư trong trường hợp mẹ tôi không để lại di chúc thì chúng tôi có được hưởng di sản không? Nếu được hưởng thì chúng tôi có thể bán nhà mà không cần sự đồng ý của chị tôi không? Cảm ơn Luật sư!

        Cảm ơn mọi người đã luôn tin tưởng và gửi câu hỏi về Tổng đài tư vấn luật miễn phí của chúng tôi. Trường hợp của anh N tổng đài tư vấn như sau:

        Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, trong trường hợp người đã mất không để lại di chúc thì phần di sản thừa kế được chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

        Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 thì những người thừa kế theo pháp luật được quy định:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”.

        Trường hợp của anh, bố mẹ mất không để lại di chúc nên phần di sản là căn nhà thuộc sở hữu của bố mẹ sẽ được chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất là 04 anh em anh, những người thừa kế cùng hàng sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau. Khi các người thừa kế thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế và làm các thủ tục theo quy định của pháp luật về việc nhận di sản thừa kế thì căn nhà sẽ thuộc sở hữu chung hợp nhất của các thành viên.

        Về việc muốn bán căn nhà, theo quy định tại điều 126 Luật nhà ở 2014 quy định về mua nhà ở thuộc sở hữu chung:

Điều 126. Mua bán nhà ở thuộc sở hữu chung

1. Việc bán nhà ở thuộc sở hữu chung phải có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu; trường hợp có chủ sở hữu chung không đồng ý bán thì các chủ sở hữu chung khác có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Các chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua, nếu các chủ sở hữu chung không mua thì nhà ở đó được bán cho người khác.
Trường hợp có chủ sở hữu chung đã có tuyên bố mất tích của Toà án thì các chủ sở hữu chung còn lại được quyền bán nhà ở đó; phần giá trị quyền sở hữu nhà ở của người bị tuyên bố mất tích được xử lý theo quy định của pháp luật.

 2. Trường hợp chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì các chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc bán phần quyền sở hữu nhà ở và điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì phần quyền đó được bán cho người khác; trường hợp vi phạm quyền ưu tiên mua thì xử lý theo quy định của pháp luật về dân sự.”

        Như vậy, trong trường hợp 03 anh em anh muốn bán nhà mà bố mẹ anh để lại cần có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu (trong đó có chị của anh). Nếu người chị không đồng ý bán thì 03 người còn lại có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Các chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua, nếu các chủ sở hữu chung không mua thì nhà ở đó được bán cho người khác.

        Trân trọng!

        Trên đây là bài tư vấn của bạn T.D đến từ Tổng đài tư vấn Luật miễn phí để giải đáp thắc mắc cho anh N.

        Mọi thắc mắc có thể gọi điện thoại trực tiếp đến tổng đài tư vấn Luật miễn phí của chúng tôi qua số 1900 6994 để được tư vấn chi tiết hơn.

 

 

Tin tức mới nhất

Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn?
Có được xin hoãn chấp hành hình phạt tù?
Sử dụng bằng giả?
Đăng ký kết hôn lần hai?

Fanpage Facebook